Tuyên truyền 90 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 - 28/7/2019)

Thứ ba - 09/07/2019 10:53 143 0
Nhân kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 - 28/7/2019), Ban Biên tập xin gửi tới Quý đọc giả Đề cương tuyên truyền 90 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 - 28/7/2019)
I. KHÁI QUÁT SỰ RA ĐỜI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ CÔNG HỘI ĐỎ - TIỀN THÂN CỦA TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM

1. Sự ra đời của của giai cấp công nhân Việt Nam

Giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam ra đời và phát triển gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp những năm cuối thế kỷ XIX. Trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, xã hội Việt Nam vẫn là một xã hội phong kiến với hai giai cấp cơ bản là giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân; duy trì nền kinh tế lạc hậu dựa vào sản xuất tiểu nông là chính, cơ sở kinh tế công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển. Sau khi cuộc xâm lăng và bình định đã cơ bản hoàn thành, thực dân Pháp liền bắt tay tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất với quy mô mở rộng ra cả nước. Các nhà máy rượu bia, vải sợi, điện nước, ngành đường sắt, hầm mỏ, đồn điền cao su, cà phê...lần lượt ra đời và cùng với đó đội ngũ những người công nhân Việt Nam đầu tiên được hình thành. Họ là những người nông dân bị tước đoạt hết ruộng đất, những người thợ thủ công bị phá sản buộc phải vào làm việc trong các doanh nghiệp tư bản Pháp. Theo số liệu thống kê trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tổng số công nhân của Việt Nam khoảng trên 10 vạn người, chủ yếu tập trung ở một số thành phố lớn như: Hà Nội, Sài Gòn - Chợ Lớn, Hải Phòng và vùng mỏ Quảng Ninh...Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, để bù đắp những tổn thất, thực dân Pháp đã tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai với quy mô và tốc độ lớn hơn trước. Chúng tăng cường đầu tư vào các ngành khai khoáng, giao thông vận tải, đồn điền, công nghiệp chế biến, dệt may...nhằm tăng cường vơ vét và bóc lột ở các nước thuộc địa. Thời kỳ này, số lượng công nhân Việt Nam đã phát triển nhanh chóng lên đến trên 22 vạn người vào đầu năm 1929.
Dưới sự áp bức bóc lột hà khắc của thực dân, phong kiến, giai cấp công nhân Việt Nam đã đoàn kết, tổ chức tập hợp nhau lại đấu tranh đòi quyền lợi, dẫn đến hình thành các Hội Ái hữu, Hội Tương tế trong các nhà máy, xí nghiệp. Cuối năm 1920, người công nhân yêu nước Tôn Đức Thắng đã vận động thành lập Công hội Ba Son ở Sài Gòn, mở đầu cho phong trào đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc.
2. Sự ra đời của Công hội đỏ Bắc Kỳ -tiền thân của Công đoàn Việt Nam ngày nay
Quá trình hình thành và phát triển của Công hội đỏ Bắc Kỳ gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong những năm đầu của thế kỷ XX. Người đã tham gia Công đoàn hải ngoại Anh khi hoạt động tại Luân Đôn trong những năm 1914 - 1917; gia nhập Công đoàn Kim khí quận 17 Pari vào năm 1919. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là người đặt cơ sở lý luận và nền tảng tư tưởng cho việc thành lập tổ chức Công đoàn Việt Nam. Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”,Người chỉ dẫn: “Công hội trước hết là để công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới”. Tháng 6/1925, Người sáng lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu - Trung Quốc và trực tiếp giảng dạy nhằm nâng cao lý luận chính trị cho học viên.
Những năm 1925 - 1928, dưới sự lãnh đạo của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phong trào “Vô sản hóa” đã thâm nhập sâu rộng vào trong các nhà máy, xí nghiệp, hầm lò để tuyên truyền, vận động công nhân tích cực tham gia phong trào đấu tranh. Sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên (3/1929), đặc biệt là sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929) là kết quả của quá trình vận động, tổ chức công nhân mà Nguyễn Đức Cảnh là một trong những sáng lập viên và giữ vai trò quan trọng. Trên cương vị là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, Nguyễn Đức Cảnh được Trung ương lâm thời phân công phụ trách công tác vận động công nhân. Nhận thức được vai trò quan trọng của tổ chức Công hội, của công nhân trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, bóc lột, bảo vệ quyền lợi của công nhân, Nguyễn Đức Cảnh và những người đồng chí đã tích cực tổ chức cuộc vận động phong trào công nhân, trước hết là phong trào công nhân Bắc Kỳ để thành lập tổ chức Công hội. Ngày 28/7/1929, Đại hội đại biểu Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ lần thứ nhất khai mạc do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh chủ trì. Đại hội đã quyết định thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ, thông qua Điều lệ và hệ thống tổ chức của Công hội, ra báo “Lao động” và tạp chí “Công hội Đỏ”, bầu Ban Chấp hành Trung ương lâm thời do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh làm Hội trưởng. Sự kiện thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ là mốc son chói lọi trong lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam. Kể từ đây, GCCN Việt Nam có một đoàn thể cách mạng rộng lớn, hoạt động có tôn chỉ, mục đích, đứng ra dẫn dắt phong trào.
II. PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN QUA CÁC THỜI KỲ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1. Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945)
Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Tổng Công hội Đỏ đã tập hợp lực lượng thợ thuyền, đội quân chủ lực của cách mạng Việt Nam, tạo nên cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931. Cuối năm 1931, phong trào đấu tranh của GCCN Việt Nam bị thực dân Pháp đàn áp dã man, hầu hết số cán bộ Đảng và Công hội Đỏ đều bị địch bắt, khiến cho mối liên lạc giữa Đảng và quần chúng, giữa Công hội Đỏ và phong trào công nhân gần như bị gián đoạn. Trong điều kiện đó, bất chấp sự kiểm soát gắt gao của thực dân Pháp, Công hội Đỏ vẫn tích cực tuyên truyền, vận động công nhân, phát triển tổ chức. Từ năm 1932-1936, phong trào cách mạng trong cả nước bắt đầu phục hồi.
Từ năm 1936-1939, tổ chức Công hội Đỏ đổi tên thành Nghiệp đoàn, Hội Ái hữu chuyển sang thời kỳ hoạt động bán công khai. Nhờ sự tổ chức linh hoạt, thích hợp với tình hình, phong trào công nhân giai đoạn này vẫn phát triển mạnh mẽ lên đỉnh điểm mới. Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp đầu hàng và thỏa hiệp với phát xít Nhật thẳng tay đàn áp phong trào dân chủ chống chiến tranh của nhân dân ta, thủ tiêu các quyền tự do nghiệp đoàn. Trước tình hình đó, tổ chức Nghiệp đoàn, Hội Ái hữu phải rút vào hoạt động bí mật và lấy tên là “Hội công nhân phản đế”, năm 1941 đổi thành “Hội Công nhân cứu quốc” làm nòng cốt cho hoạt động của tổ chức Việt Minh.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Công đoàn Việt Nam thực sự là trung tâm đoàn kết của công nhân lao động Việt Nam. Với trên 20 vạn người trong năm 1945, các đoàn viên Công đoàn trở thành lực lượng nòng cốt làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
2. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)
Sau Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tháng 3/1946, Hội nghị đại biểu Công nhân cứu quốc Bắc Bộ, Trung Bộ và Tổng Công đoàn Nam Bộ đã quyết định thống nhất về mặt tổ chức trên phạm vi cả nước thành “Hội Công nhân cứu quốc”. Tháng 6/1946, tại Hội nghị cán bộ Công đoàn cứu quốc đã đổi tên “Hội Công nhân cứu quốc” thành “Công đoàn”. Ngày 20/7/1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, “Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam” đã chính thức được thành lập và được công nhận là thành viên chính thức của Liên hiệp Công đoàn thế giới vào năm 1949.
Trong những năm đầu đất nước giành độc lập, tổ chức Công đoàn và GCCN Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám, tham gia tích cực vào cuộc Tổng Tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, các đội cảm tử Thủ đô, trong đó nòng cốt là công nhân đã chiến đấu với tinh thần quả cảm, anh dũng.
Thực hiện nhiệm vụ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tổ chức vận động công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ) tập trung xây dựng nhà máy, công xưởng, sản xuất vũ khí, khí tài quân sự; khắc phục khó khăn, hăng hái thi đua lao động phục vụ kháng chiến. Tại chiến khu Việt Bắc, từ ngày 01-15/01/1950, Đại hội lần I Công đoàn Việt Nam đã khẳng định mục tiêu: “Động viên công nhân viên chức cả nước, nhất là công nhân ngành Quân giới sản xuất nhiều vũ khí, khí tài phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi”.Tại Đại hội này, đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch.
Tháng 2/1951, Đại hội lần thứ II của Đảng đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển kinh tế phục vụ tổng phản công, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng, Công đoàn vận động công nhân hăng hái sản xuất và tham gia quản lý, xây dựng xí nghiệp. Đây là bước chuyển biến lớn về nhận thức tư tưởng và phương thức hoạt động Công đoàn. Từ đây trong các xí nghiệp quốc doanh, Công đoàn đại diện cho công nhân tham gia các Ủy ban xí nghiệp, góp phần trực tiếp quản lý sản xuất kinh doanh, đưa nền kinh tế kháng chiến phát triển về mọi mặt. Ở vùng tự do, Công đoàn phát động công nhân “Thi đua sản xuất, thi đua xây dựng”, “Cải tiến kỹ thuật, phát huy sáng kiến, trau dồi nghề nghiệp”. Phong trào được tổ chức, chỉ đạo tương đối chặt chẽ, thực hiện dân chủ trong quản lý sản xuất.
Giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết, phát huy vai trò tiên phong của GCCN vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh, đấu tranh kiên cường, góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, kết thúc vẻ vang 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
3. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954- 1975)
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam tạm thời bị chia thành hai miền, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH), miền Nam còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ.
Đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Hội nghị Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa I) họp vào tháng 8/1954 đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là “Cần phải động viên, tổ chức đông đảo quần chúng lao động trong các đô thị thành một lực lượng mạnh mẽ làm chỗ dựa tốt nhất, chắc chắn nhất cho chính quyền tiến hành công tác tiếp thu, phục hồi sản xuất, giữ gìn an ninh, trật tự thành phố”.
Ở miền Bắc tiến hành công cuộc tái thiết đất nước, khó khăn tiếp tục đặt lên vai người công nhân. Với trách nhiệm chủ nhân của đất nước, đội ngũ CNVCLĐ đã đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nhờ vậy chỉ trong thời gian ngắn hoạt động sản xuất tại các cơ sở công nghiệp đã phục hồi. Qua thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, những điển hình trong phong trào thi đua yêu nước của GCCN được lan tỏa, như “Sóng Duyên Hải”, “Hợp tác xã Thành Công”, “Ba quyết tâm”…đã xuất hiện nhiều CNVCLĐ tiêu biểu được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, là những tấm gương sáng trong học tập, lao động sản xuất và chiến đấu.
Ở miền Nam, phong trào công nhân, Công đoàn hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm ra sức khủng bố, đàn áp. Các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp bị đình đốn, đời sống của CNVCLĐ khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng đã chỉ đạo các cơ sở trong nội thành, trong các đồn điền phải tìm mọi cách bám đất, bám dân phát triển lực lượng, tổ chức cho công nhân đấu tranh.
Ngày 5/11/1957, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Sắc lệnh số 108-SL/L10 về ban hành Luật Công đoàn đã tạo cơ sở pháp lý, nâng cao vị trí của tổ chức Công đoàn, củng cố vai trò lãnh đạo của GCCN trong tình hình mới. Thắng lợi của công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa đã tạo ra những tiền đề quan trọng góp phần xây dựng và đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, đồng thời đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, thành quả đó có đóng góp quan trọng của GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam.
Trước những yêu cầu mới, Đại hội lần thứ II Công đoàn Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 23-27/2/1961đã quyết định đổi tên “Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam” thành “Tổng Công đoàn Việt Nam”. Đại hội đã đề ra mục tiêu: “Động viên cán bộ, công nhân, viên chức thi đua lao động sản xuất, xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc với tinh thần mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt, góp phần đấu tranh thống nhất nước nhà”; đồng chí Hoàng Quốc Việt tiếp tục được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ III Công đoàn Việt Nam được tổ chức từ ngày 11-14/2/1974 tại Hà Nội bầu đồng chí Tôn Đức Thắng - Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm Chủ tịch danh dự, đồng chí Hoàng Quốc Việt tiếp tục giữ cương vị Chủ tịch. Mục tiêu của Đại hội là “Các cấp Công đoàn phải phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng CNXH với năng suất lao động, hiệu quả công tác, phục vụ và tham gia chiến đấu, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.
Tổng Công đoàn Việt Nam tham gia xây dựng một số chế độ, chính sách bổ sung và sửa đổi về lao động, tiền lương, tiền thưởng. Liên hiệp Công đoàn các tỉnh, thành phố đã ký kết Nghị quyết liên tịch với cơ quan chính quyền đồng cấp về việc tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách đối với CNVCLĐ. Nhiều Công đoàn cơ sở đã kịp thời động viên CNVCLĐ thi đua lao động, sản xuất, phấn đấu hoàn thành kế hoạch được giao. Việc thực hiện quy tắc an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp được thực hiện tốt hơn, cải thiện điều kiện làm việc cho CNVCLĐ.
Năm 1965 Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam được thành lập đã không ngừng củng cố và phát triển, vừa tổ chức cho CNVCLĐ các thành phố đấu tranh, vừa động viên CNVCLĐ vùng giải phóng đẩy mạnh sản xuất phục vụ chiến đấu. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh, Công đoàn giải phóng đã vận động CNVCLĐ ở các đô thị đồng loạt nổi dậy, phối hợp với lực lượng vũ trang tiêu diệt địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
4. Thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội (1975 - 1986)
Đầu năm 1976, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, đã tạo điều kiện cơ bản để thống nhất tổ chức Công đoàn trên phạm vi cả nước.
Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, từ tháng 01/1976 Tổng Công đoàn Việt Nam và Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam bắt tay vào chuẩn bị các điều kiện cho việc thống nhất tổ chức Công đoàn của GCCN Việt Nam. Ngày 6/6/1976, Hội nghị Công đoàn toàn quốc được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định thống nhất Công đoàn hai miền Nam, Bắc thành “Tổng Công đoàn Việt Nam”.
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ IV được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 08-11/5/1978 đã nêu rõ mục tiêu: “Động viên GCCN và những người lao động khác thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa trong cả nước”; đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Bộ Chính trị được bầu làm Chủ tịch.
Những năm 1981-1982, Công đoàn đã tiến hành nhiều đợt tuyên truyền sâu rộng trong công nhân, viên chức về tình hình và nhiệm vụ của đất nước, về chủ trương, chính sách, nhất là các chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước. Đi đôi với giáo dục chính trị, Công đoàn đã có nhiều cố gắng trong việc duy trì phong trào học bổ túc văn hoá, kỹ thuật, nghiệp vụ; đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao; công tác báo chí, xuất bản của Công đoàn đã có những tiến bộ mới.
Đại hội lần thứ V Công đoàn Việt Nam tiến hành từ ngày 16-18/11/1983 đã khẳng định mục tiêu: “Động viên công nhân, lao động thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn của Đảng, là phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”, Đại hội đã Quyết định lấy ngày 28/7/1929 là Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam, đồng chí Nguyễn Đức Thuận được bầu làm Chủ tịch.
Các phong trào thi đua lao động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong CNVCLĐ đã tạo được bước chuyển biến tích cực, nhiều điển hình tiên tiến và nhân tố mới đã hình thành, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác phát triển đoàn viên được Công đoàn chú trọng, số đoàn viên và Công đoàn cơ sở ngày càng tăng lên. Bên cạnh đó, Công đoàn còn tham gia vào lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, đề nghị Nhà nước bổ sung phụ cấp ốm đau, thai sản, tại nạn lao động, trợ cấp khó khăn…Các chế độ nghỉ ngơi, tham quan du lịch và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao được duy trì, phát triển.
Nhân dịp kỷ niệm 55 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929-28/7/1984), Nhà nước đã tặng Tổng Công đoàn Việt Nam Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam.
5. Thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (1986 - 2019)
Trong tình hình đất nước tiến hành đối mới, từng bước hội nhập, Đại hội lần thứ VI Công đoàn Việt Nam họp từ ngày17-20/10/1988 tại Hà Nội đã xác định mục tiêu: “Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội”. Đại hội Quyết định đổi tên “Tổng Công đoàn Việt Nam” thành “Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam”; đồng chí Nguyễn Văn Tư được bầu làm Chủ tịch. Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam đã có nhiều đóng góp vào kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm (1986 - 1990), đưa đất nước ta dần thoát khỏi khó khăn, ổn định đời sống nhân dân và CNVCLĐ.
Đại hội lần thứ VII Công đoàn Việt Nam được tổ chức từ ngày 09-12/11/1993 tại Hà Nội đã nhấn mạnh yêu cầu “Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn, góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, chăm lo bảo vệ lợi ích công nhân lao động”; đồng chí Nguyễn Văn Tư được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ VIII Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 03-06/11/1998 nhấn mạnh “Vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội, xây dựng GCCN và tổ chức Công đoàn vững mạnh”; đồng chí Cù Thị Hậu được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ IX Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 10-13/10/2003, đồng chí Cù Thị Hậu tiếp tục được bầu lại làm Chủ tịch, Đại hội đã khẳng định “Xây dựng GCCN và tổ chức Công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ, góp phần tăng cường đại đoàn kết dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đại hội lần thứ X Công đoàn Việt Nam họp từ ngày 02-05/11/2008 đã xác định mục tiêu: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Công đoàn các cấp, hướng về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy đoàn viên, CNVCLĐ làm đối tượng vận động, chuyển mạnh hoạt động Công đoàn vào việc tổ chức thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, CNVCLĐ, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước”; đồng chí Đặng Ngọc Tùng được bầu làm Chủ tịch.
Nhiệm kỳ lần thứ X của Công đoàn Việt Nam hoạt động trong bối cảnh GCCN Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Nghị quyết thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về xây dựng GCCN, đồng thời đáp ứng nguyện vọng của hàng triệu CNVCLĐ trong cả nước. Những hoạt động triển khai thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, cùng với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và Công đoàn đã tạo được chuyển biến trong cả nhiệm kỳ hoạt động, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên và người lao động.
Đại hội lần thứ XI Công đoàn Việt Nam được tổ chức từ ngày 27-30/7/2013 đã xác định phương châm hành động, đó là “Vì quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động, vì sự phát triển bền vững của đất nước, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động công đoàn”; đồng chí Đặng Ngọc Tùng tiếp tục được bầu làm Chủ tịch. Đại hội lần thứ XII Công đoàn Việt Nam diễn ra từ ngày 24-26/9/2018, đồng chí Bùi Văn Cường được bầu làm Chủ tịch. Đại hội đã xác định 09 nhóm chỉ tiêu, 09 nhiệm vụ tổng quát và 03 khâu đột phá trong cả nhiệm kỳ, ngoài ra còn có 01 chương trình trọng tâm "Công đoàn Việt Nam đồng hành cùng Chính phủ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển bền vững đất nước".
Có thể khẳng định rằng, trong công cuộc đổi mới đất nước, trải qua 07 kỳ Đại hội Công đoàn Việt Nam, GCCN Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đang có mặt trong tất cả các ngành nghề, các thành phần kinh tế, là lực lượng quan trọng, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
*
*                        *
HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN QUẢNG TRỊ QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ
1. Phong trào công nhân và hoạt động Công đoàn Quảng Trị trước cách mạng tháng Tám năm 1945
Công nhân lao động ở Quảng Trị ra đời vào những năm 20 của thế kỷ XX, xuất thân từ nông dân, không phải lực lượng công nhân công nghiệp với số lượng ít, nhưng công nhân lao động Quảng Trị đã sớm tiếp thu, phát huy truyền thống yêu nước, truyền thống đấu tranh bất khuất kiên cường của vùng đất, con người vốn có bản chất cần cù, chịu thương, chịu khó, anh dũng kiên trung, bất khuất trước kẻ thù, hòa mình vào phong trào cách mạng của quê hương.
Từ năm 1919-1925, phong trào công nhân nước ta phát triển mạnh mẽ, dẫn đến sự xuất hiện tổ chức Công đoàn sơ khai trong phong trào công nhân, lao động Việt Nam, mà người trực tiếp sáng lập là đồng chí Tôn Đức Thắng.
Đến những năm 1924-1925, Công hội trở thành linh hồn của phong trào bãi công, điển hình là cuộc đấu tranh của công nhân, lao động xưởng Ba Son (Sài Gòn). Trong những năm 1925 – 1929 nhiều tổ chức công hội của giai cấp công nhân đã ra đời như: Công hội Sài Gòn (năm 1925), Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ (thành lập ngày 28/7/1929), Tổng Công hội Vinh - Bến Thủy (11/1929)...
Ở Quảng Trị, sau khi liên lạc được với Đông Dương Cộng sản Đảng, nhóm cộng sản đầu tiên của Quảng Trị được thành lập, đề ra phương hướng hoạt động, trong đó có chủ trương mở đợt tuyên truyền cách mạng, phát triển các tổ chức quần chúng như Công hội, Nông hội, Thanh niên cộng sản, Cứu tế đỏ... Thực hiện chủ trương đó, cuối năm 1929, các Công hội Đỏ ở thị xã Quảng Trị, Đông Hà... được thành lập, bước đầu đi vào hoạt động trong lực lượng thợ thuyền, đồn điền, nhà máy, công sở...
Tháng 11/1930, được Xứ ủy cử phái viên vào giúp đỡ, Tỉnh ủy Quảng Trị chính thức được thành lập. Trong phiên họp đầu tiên, Tỉnh ủy rất chú trọng cũng cố tổ chức Công Hội Đỏ để vận động phong trào công nhân, lao động ở các thị xã, thị trấn, ở các đồn điền trong tỉnh đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, tiếp tục ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh. Trong những năm 1930 - 1931, thực hiện các chủ trương của Đảng, tổ chức Công hội Đỏ tỉnh Quảng Trị đã kêu gọi công nhân, lao động tích cực tham gia các phong trào rải truyền đơn, treo cờ Đảng trong dịp kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5/1930, kêu gọi đồng bào biểu tình phản đối khủng bố trắng của thực dân Pháp và ủng hộ phong trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh. Sự kiện ngày 01/5/1930 của công nhân, lao động và tổ chức Công đoàn Quảng Trị đã ghi vào lịch sử, đánh dấu bước ngoặt chuyển từ phong trào đấu tranh tự phát sang tự giác có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào công nhân và tổ chức Công đoàn Quảng Trị.
Trong các năm 1932 – 1936, trước sự khủng bố ác liệt của quân thù, phong trào cách mạng Triệu Hải gặp nhiều khó khăn, tạm lắng xuống, nhưng ở Vĩnh Linh, Gio Linh vẫn tiếp tục phát triển, có lúc có nơi vẫn bùng lên các cuộc đấu tranh của hàng ngàn lao động đòi địch giải quyết các quyền lợi dân sinh, dân chủ thu thắng lợi. Khi địch tập trung khủng bố đàn áp, một số hội viên của Công hội Đỏ Đông Hà, đường 9, thị xã Quảng Trị vẫn bám trụ địa bàn, tiếp tục hoạt động theo chương trình hành động của Công hội Đỏ do Đảng vạch ra.
Ngày 28/6/1937, Hội nghị đại biểu Đảng bộ Quảng Trị họp tại Choi Pheo (Hải Phú, Hải Lăng), dưới sự chủ tọa của đồng chí Lê Duẩn, Hội nghị chú trọng trước hết đến các nhiệm vụ củng cố, phát triển Đảng và các tổ chức quần chúng. Đối với tổ chức công nhân, Hội nghị đã chỉ rõ: “Phải dùng lối công khai và nửa công khai mà tổ chức ra các Hội Ái hữu, tương tế để đoàn kết công nhân, lao động, bênh vực quyền lợi cho họ. Tuy tên là Ái hữu, Tương tế... nhưng nội dung là công tác Công hội, không lấy tên là Công hội Đỏ, mà lấy lên là Công hội Thống nhất”
Như vậy, mặc dù chưa tổ chức được một Công hội Thống nhất trong toàn tỉnh như chủ trương của Đảng đề ra, nhưng những tổ chức quần chúng mang chức năng Công hội đã được thành lập trong đội ngũ công nhân Quảng Trị. Đến năm 1945, trong đội ngũ công nhân Quảng Trị đã xuất hiện tổ chức chính trị của công nhân đó là “Hội công nhân cứu quốc” thành lập ở một số đồn điền, trong các xí nghiệp điện, nước, nhà ga... Ở các thị trấn thời kỳ tiền khởi nghĩa, họ đã có những hoạt động tích cực trong công tác cứu đói, chống âm mưu của Pháp và tẩy chay các hoạt động của tổ chức thân Nhật. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, với khẩu hiệu: “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”, công nhân lao động Quảng Trị đã sát cánh, kề vai cùng với các tầng lớp nhân dân trong tỉnh dấy lên cao trào cách mạng chống thực dân Pháp, kháng Nhật cứu nước, góp phần tích cực vào thắng lợi của công cuộc vận động giải phóng dân tộc và cuộc cách mạng giành chính quyền tháng Tám năm 1945.
2. Phong trào công nhân, lao động và hoạt động công đoàn Quảng Trị trong thời kỳ chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ  (1945 - 1954)
Ngay sau hội nghị cán bộ Đảng toàn tỉnh (ngày 10/9/1945), Tỉnh ủy Quảng Trị đã chủ trương đẩy mạnh tổ chức Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc trong tỉnh.Theo đó, việc xây dựng tổ chức đoàn thể công nhân, lao động được đặt ra trong các công sở, đồn điền, bến xe, bến đò, cơ sở tiểu thủ công nghiệp: rèn, mộc, gạch, nón, dệt, mỏ, làm muối... Lúc này có khoảng 2.000 hội viên cứu quốc trong số 4.000 công nhân công sở, đồn điền và 8.000 lao động tự do.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị cùng với toàn Đảng, toàn dân và các hội cứu quốc khác, Hội công nhân cứu quốc vừa ra sức sản xuất, khôi phục kinh tế, vừa xây dựng và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân mới thành lập. Đồng thời, Hội tích cực tham gia phong trào “chống giặc đói, chống giặc dốt và chống giặc ngoại xâm”. Ngày 06/01/1946, giai cấp công nhân Việt Nam đã cùng nhân dân cả nước phấn khởi thực hiện quyền dân chủ tham gia tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Hội công nhân cứu quốc tỉnh đã tổ chức học tập, tuyên truyền vận động quần chúng, hội viên đi bầu cử. Hội viên Hội công nhân cứu quốc còn tham gia các tổ bảo vệ bầu cử, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên ở Quảng Trị.
Với sự kiện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tuyên bố chính thức thành lập và ra mắt quần chúng ngày 20/7/1946 tại Thủ đô Hà Nội đã đánh dấu một bước phát triển của giai cấp công nhân và phong trào Công đoàn Việt Nam; có ý nghĩa to lớn trong việc thúc đẩy quá trình phát triển về chính trị và tổ chức của công nhân Quảng Trị. Tháng 8/1946, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ban chấp hành lâm thời Hội công nhân cứu quốc tỉnh đã triệu tập Đại hội đại biểu tỉnh Quảng Trị lần thứ nhất tại thị xã Quảng Trị. Đại hội đã bầu BCH gồm 25 ủy viên, BCH đã phân công đồng chí Trần Tiềm làm Thư ký.
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, song song với trọng tâm công tác củng cố tổ chức, công đoàn coi trọng việc tổ chức các xưởng sữa chữa vũ khí, tuyển chọn thợ giỏi tham gia xưởng chế tạo vũ khí, thành lập đội tự vệ vũ trang, huy động lực lượng công nhân, thợ thủ công và lao động tham gia phá đường, phá cầu cống trên quốc lộ 1, quốc lộ 9, đường sắt Bắc – Nam, xây dựng cộng sự chiến đấu, tham gia xây dựng các tuyến phòng ngự của tỉnh, huyện. Hàng ngàn công nhân, viên chức theo tiếng gọi của Hồ Chủ Tịch “tản cư cũng là kháng chiến” đã hy sinh nhà cửa, tài sản, tất cả để kháng chiến. Công đoàn tổ chức lực lượng công nhân, lao động tham gia chiến đấu, di chuyển máy móc, vật liệu lên các chiến khu để xây dựng cơ sở sản xuất, phục vụ kháng chiến lâu dài. Liên hiệp Công đoàn Quảng Trị chỉ đạo các công đoàn cơ sở ở các huyện, thị phối hợp cùng các cơ quan và nhân dân xây dựng các chiến khu kháng chiến thành căn cứ kháng chiến ở các địa phương; tham gia các đội cứu tế, phá hoại, bố phòng, tiếp tế vận tải, giao thông liên lạc. Các cơ sở công đoàn trong vùng địch vận động tổ chức quần chúng đấu tranh hợp pháp với địch; tuyên truyền, vận động nhân dân vùng tạm chiếm đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến; tổ chức các tổ du kích bí mật chờ khi có lệnh sẵn sàng phối hợp chiến đấu.
Hưởng ứng cuộc vận động thi đua yêu nước của Trung ương Đảng phát động ngày 27/3/1948, Liên hiệp Công đoàn tỉnh đã động viên và tổ chức công nhân, viên chức, lao động trong tỉnh tham gia sôi nổi trên mọi mặt trận, mọi lĩnh vực. Công nhân, nông dân thi đua sản xuất, bộ đội, du kích, nhân dân thi đua diệt giặc, phá tề, trừ gian, cơ quan thi đua công tác...
Ngày 15/01/1950, Đại hội Liên hiệp Công đoàn lần thứ II được tổ chức tại Phong An (Triệu Phong). Tính đến tháng 9/1950, toàn tỉnh có 26 công đoàn cơ sở và phân đoàn với 5.404 đoàn viên trong tổng số lao động chung toàn tỉnh khoảng 15.000 người. Sau Đại hội, Liên hiệp Công đoàn tỉnh đã phối hợp với chính quyền cổ vũ công nhân lao động tham gia phong trào cải tiến kỹ thuật; phong trào thi đua sản xuất phục vụ chuyên môn, phục vụ kháng chiến để hoàn thành nhiệm vụ chuyển mạnh sang tổng phản công và ổn định đời sống, đồng thời chủ trương cho các công đoàn cơ sở ở các huyện, thị xã, Quảng Trị chuẩn bị kế hoạch vận động công nhân làm trong các công sở của địch như máy nước, máy điện, bưu điện, giao thông, cầu cống thu giấu bảo vệ máy móc không cho địch mang đi theo khi Quảng Trị được giải phóng, phát động anh chị em công nhân lao động tham gia các cuộc đấu tranh chống địch bắn phá, đòi bồi thường thiệt hại do chúng gây ra. Các công đoàn còn tổ chức quyên góp giúp đỡ nhân dân vùng ven thị xã xây dựng lại nhà cửa vừa qua bị địch đốt phá, triệt hạ góp phần ổn định đời sống của nhân dân.
3. Phong trào công nhân, lao động và tổ chức Công đoàn Quảng Trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – tháng 3/1976)
Với thắng lợi Điện Biên Phủ (tháng 7-1954), quân và dân ta đã buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nhưng, lợi dụng quy định: lấy Vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) làm giới tuyến quân sự tạm thời để lực lượng hai bên tập kết, đế quốc Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn dựng lên cái gọi là chính quyền Việt Nam cộng hòa - công cụ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, quyết chia cắt lâu dài đất nước ta. Vậy là, Quảng Trị trở thành tuyến đầu - nơi đọ sức sinh tử của toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Mỹ xâm lược. Công đoàn Quảng Trị tạm thời hoạt động ở hai khu vực: Phía Nam, hoạt động hòa nhập vào các ban binh vận, địch vận, tiếp tục xây dựng và phát triển lực lượng trong các cơ sở thợ thuyền, vạn đò, vùng thị xã Đông Hà; Phía Bắc, Công đoàn khu vực Vĩnh Linh hoạt động trực thuộc chỉ đạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng của mình, lực lượng công nhân lao động cùng quân và dân Quảng Trị đã vững tin, quyết đánh, tìm ra cách đánh thích hợp để cùng quân và dân miền Nam đánh bại hoàn toàn mưu đồ “dùng người Việt đánh người Việt” để áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam trong khoảng một thập kỷ đầu tiên của cuộc chiến tranh (từ tháng 7-1954 đến đầu năm 1965). Mà mở đầu là tích cực tham gia các cuộc mít tinh, biểu tình mừng hòa bình lập lại trên toàn cõi Đông Dương, đặc biệt đã tham gia cuộc mít tinh lớn kỷ niệm lần thứ 10 ngày Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (2/9/1945 - 2/9/1954) do Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Trị tổ chức tại Phước Môn (Hải Lăng) và dự cuộc liên hoan tiễn đưa cán bộ, bộ đội của ta đi tập kết ra Bắc.
Chặng đường (1954-1975) đầy gian khổ, ác liệt, hy sinh nhưng rất đỗi tự hào. Gắn liền với những chiến công chói lọi của quê hương, đất nước, phong trào công nhân, lao động và hoạt động của tổ chức công đoàn ở hai khu vực đã lập nên những thành tích xuất sắc. Với các phong trào: “Vì miền Nam ruột thịt”, ‘Vì quê hương Trị Thiên”, “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Ba sẳn sàng”, “Ba đảm đang”, “Tay cày, tay súng”, “Tay búa, tay súng”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”... công nhân lao động khu vực Vĩnh Linh đã cùng miền Bắc trở thành hậu phương lớn trực tiếp chi viên cho cách mạng miền Nam, viết tiếp trang sử mới vô cùng oanh liệt trước kẻ thù xâm lược hung hãn và hiếu chiến, lập nên chiến thắng mùa Xuân 1972 lịch sử, giải phóng quê hương Quảng Trị, tạo đà, tạo thế, cùng quân dân cả nước viết tiếp trang sử vàng chói lọi của đất nước bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử - Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
4. Phong trào công nhân, lao động và hoạt động của tổ chức công đoàn Quảng Trị thời kỳ hợp nhất tỉnh Bình – Trị - Thiên (1976-1989)
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bên cạnh những thuận lợi, Quảng Trị đang đứng trước những khó khăn, thử thách hết sức gay gắt. Hậu quả chiến tranh hết sức nặng nề, các công trình dân sinh, cơ sở kỹ thuật công nghiệp, nông nghiệp, nhất là hệ thống thuỷ lợi bị tàn phá đang là gánh nặng trong quá trình khôi phục và xây dựng. Nhiệm vụ trọng tâm đặt ra cho nhân dân Quảng Trị lúc này là tập trung đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và chú trọng về sản xuất vật liệu xây dựng, tăng nhanh nguồn thu của địa phương, phấn đấu giải quyết phần lớn nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh đồng thời bước đầu có hàng hoá làm nghĩa vụ cho Nhà nước. Liên hiệp Công đoàn tỉnh đã phối hợp với chính quyền phát động phong trào thi đua lao động sản xuất và cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn với các ngày lễ kỷ niệm lớn trong năm...
 Các cấp công đoàn cùng với các cơ quan chuyên môn mở các hội nghị chuyên đề bàn về vấn đề ăn, ở, nhà trẻ, phúc lợi tập thể, thực hiện các chế độ, chính sách đối với quần chúng. Công đoàn các cấp đã chú ý đến việc giám sát, tham gia với chuyên môn thi hành các chính sách, chế độ tiền lương, tiền thưởng, quỹ phúc lợi; thi hành chính sách BHXH, xây dựng gia đình văn hóa, vận động quần chúng tham gia xây dựng và thực hiện định mức chỉ tiêu trong lao động sản xuất theo các lĩnh vực chuyên môn, ngành nghề.
Tháng 3 năm 1976, thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế hợp nhất thành tỉnh Bình Trị Thiên. Tháng 6/1976 tổ chức Công đoàn 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và khu vực Vĩnh Linh hợp nhất thành Liên hiệp Công đoàn Bình Trị Thiên. Sau khi tỉnh Bình Trị Thiên được thành lập trên cơ sở sáp nhập ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và khu vực Vĩnh Linh, nhân dân Bình Trị Thiên đã có cơ hội sát cánh bên nhau trong công cuộc xây dựng xã hội mới. Đội ngũ cán bộ, công nhân, viên chức, lao động và tổ chức công đoàn trong tỉnh đã đoàn kết, gắn bó cùng chung sức, chung lòng phấn đấu khắc phục khó khăn, nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, huy động mọi nguồn lực để duy trì sự ổn định của nền kinh tế, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
Thông qua phong trào hành động cách mạng, công nhân viên chức toàn tỉnh đã nêu cao tinh thần cách mạng, chủ động khắc phục vượt qua khó khăn, năng động sáng tạo, tiếp tục đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phong trào lao động sáng tạo ngày càng phát triển với hàng vạn sáng kiến, làm lợi cho Nhà nước hàng trăm triệu đồng. Số tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa phát triển từ 517 (1975) lên 1.937 tổ (1985), số chiến sĩ thi đua tăng từ 1.764 người năm 1975 lên 4.628 người năm 1985. Hệ thống tổ chức Công đoàn của tỉnh Bình Trị Thiên ngày càng  phát triển và trưởng thành. Đây chính là thời kỳ tổ chức Công đoàn được mở rộng trong trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, ở các huyện, thị, thành phố và lực lượng vũ trang. Số lượng đoàn viên và tổ chức công đoàn cơ sở tăng nhanh. Đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp có bước phát triển về số lượng, được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và trưởng thành trong hoạt động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của tổ chức công đoàn và phong trào công nhân trong giai đoạn cách mạng mới. Những kết quả đã đạt được của phong trào công nhân và hoạt động Công đoàn Bình Trị Thiên nói chung và Quảng Trị nói riêng trong thời gian này có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo đà cho giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn tỉnh nhà vươn lên mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo.
5. Phong trào công nhân, lao động và hoạt động của tổ chức Công đoàn Quảng Trị từ ngày lập lại tỉnh (01/7/1989 – nay)
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, hoạt động công đoàn gặp nhiều khó khăn, thử thách. Trình độ, năng lực nhiều cán bộ công đoàn còn yếu; cơ chế và phương thức hoạt động chưa kịp đổi mới theo yêu cầu chung. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với điều kiện thực tiễn, Liên hiệp Công đoàn Bình Trị Thiên đã chỉ đạo các cấp công đoàn bám sát mục tiêu kế hoạch kinh tế - xã hội của tỉnh, tổ chức các phong trào thi đua, vận động công nhân, viên chức, lao động thực hiện ba chương trình kinh tế lớn là sản xuất lương thực, sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Phong trào phục vụ sản xuất lương thực - thực phẩm được duy trì liên tục, phát triển rộng, bước đầu có đổi mới về hình thức và nội dung liên kết giữa công đoàn với các ngành hỗ trợ sản xuất nông nghiệp; một số cơ sở thuộc các ngành đóng trên những địa bàn khác nhau đã liên kết cùng thực hiện một nhiệm vụ để phục vụ hoạt động sản xuất và sinh hoạt đời sống nhân dân các vùng trong tỉnh.
Thực hiện chủ trương của Trung ương, ngày 01/7/1989 tách tỉnh Bình Trị Thiên thành 03 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Tỉnh Quảng Trị được tái thành lập, trở về địa giới cũ. Những năm đầu tái lập tỉnh, chúng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, đội ngũ CNVCLĐ Quảng Trị và các cấp Công đoàn Quảng Trị đã tiếp tục phát huy truyền thống vốn có của mãnh đất Quảng Trị anh hùng, không ngừng phấn đấu, rèn luyện trong lao động sản xuất công tác và học tập, đi đầu trong đổi mới tư duy kinh tế, tiến quân mạnh mẽ vào mặt trận khoa học, kỹ thuật, tích cực học tập, nâng cao trình độ mọi mặt, đáp ứng với cơ chế mới và sự nghiệp đổi mới của quê hương đất nước.
Ban Chấp hành Liên đoàn Lao động Quảng Trị đã quan tâm chỉ đạo, từng bước đổi mới tổ chức, kiện toàn, củng cố bộ máy công đoàn các cấp, nhất là công đoàn cấp cơ sở. Đội ngũ, cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp công đoàn từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đoàn viên công đoàn trong tỉnh ngày càng tăng về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, thực sự phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do công đoàn phát động phát triển mạnh mẽ và ngày càng có sức lan tỏa như: phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, "Luyện tay nghề, thi thợ giỏi", cuộc vận động xây dựng người cán bộ công chức "Trung thành, trách nhiệm, liêm chính, sáng tạo" ...  Ngày càng chú trọng quan tâm tổ chức các hoạt động thiết thực chăm lo cho đoàn viên, lao động, nhất là đoàn viên, lao động có hoàn cảnh khó khăn như: tổ chức Chương trình “Tết sum vầy”, “Tháng Công nhân”, “Mái ấm công đoàn”, chương trình phúc lợi đoàn viên... Tập trung vận động phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS trong các doanh nghiệp; vận động đoàn viên, CNVCLĐ tích cực thực hiện cải cách hành chính, đẩy mạnh thực hiện phong trào "Thi đua liên kết phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp và phát triển nông thôn",  xây dựng nông thôn mới, tích cực tham gia công tác an sinh xã hội...góp phần thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ mà nghị quyết Đại hội Đảng các cấp đề ra.
Các cấp công đoàn vận động CNVCLĐ tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đấu tranh với mọi biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, mất dân chủ, bè phái, cục bộ địa phương… Tăng cường và phát huy vai trò làm chủ của giai cấp công nhân; phối hợp xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Bồi dưỡng, giới thiệu những đoàn viên công đoàn ưu tú để tổ chức Đảng xem xét, kết nạp vào hàng ngũ của Đảng.
Công đoàn Quảng Trị tiền thân là Hội Công nhân cứu quốc, từ khi thành lập năm 1946 đến nay đã trải qua 12 kỳ Đại hội. Mục tiêu của Công đoàn Quảng Trị đặt ra qua 12 kỳ Đại hội luôn phù hợp với từng giai đoạn cách mạng trong đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như công cuộc xây dựng đất nước. Trải qua 90 năm, giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Quảng Trị có những chuyển biến tích cực tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên. Từ chổ chỉ có 2.000 đoàn viên sinh hoạt trong 18 công đoàn cơ sở và 38 hội trực thuộc (Đại hội lần thứ nhất tháng 8/1946), đến nay đã có 9 LĐLĐ huyện, thị xã, thành phố, 5 công đoàn ngành, toàn tỉnh hiện có 1.052 CĐCS, trong đó: có 790 CĐCS khu vực hành chính sự nghiệp, 262 CĐCS khu vực doanh nghiệp, tập hợp trên 39.700 đoàn viên trong trong tổng số gần 6 vạn lao động trong các thành phần kinh tế. Tỷ lệ công đoàn cấp trên cơ sở hoạt động toàn diện và toàn diện xuất sắc; công đoàn cơ sở đạt vững mạnh và vững mạnh xuất sắc; đoàn viên công đoàn xuất sắc đều được tăng lên qua mỗi nhiệm kỳ. Giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn luôn là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp đổi mới đất nước, của tỉnh, là chỗ dựa vững chắc của Đảng và là cầu nối giữa Đảng, nhà nước với người lao động. Phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh của tỉnh, vị thế của tổ chức công đoàn được nâng lên trong xã hội.
Với những thành tích đạt được, tổ chức Công đoàn đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba năm 1984, Huân chương Lao động hạng Nhì năm 1994, Huân chương Lao động hạng Nhất năm 1998, Huân chương Độc lập hạng Ba năm 2003, Huân chương Độc lập hạng Nhì năm 2008; Huân chương Độc lập hạng Nhất năm 2014, 3 lần được Chính phủ tặng Cờ thi đua xuất sắc; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng cờ “Đơn vị có phong trào thi đua xuất sắc toàn diện” trong 3 nhiệm kỳ liên tục, từ Đại hội IX đến Đại hội XI; được UBND tỉnh tặng Cờ thi đua đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua 5 năm 2003-2008.
        Tự hào và phát huy truyền thống của giai cấp công nhân, Công đoàn Việt Nam trong 90 năm qua, truyền thống anh hùng bất khuất của quê hương Quảng Trị, đứng trước nhiều vấn đề mới; thời cơ, thuận lợi đan xen những khó khăn, thách thức; trước yêu cầu đổi mới của đất nước và diễn biến nhanh, phức tạp của tình hình thế giới và khu vực. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, giai cấp công nhân và Công đoàn Quảng Trị sẽ tiếp tục phát huy bản chất cách mạng, ra sức học tập, rèn luyện tốt hơn, củng cố lập trường giai cấp công nhân, giữ vững ý chí cách mạng, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả nghị quyết Đại hội XII Công đoàn Việt Nam, Đại hội XII Công đoàn tỉnh và chương trình hành động của tổ chức công đoàn thực hiện nghị quyết Đại hội XVI của Đảng bộ tỉnh và nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII; ra sức thi đua lao động sản xuất, công tác, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đã đề ra./.
 
[1]Tại một số nơi, mặc dù bị địch ngăn cản, nhiều nghiệp đoàn vẫn được thành lập và hoạt động công khai. Những nơi chưa dành được quyền tự do nghiệp đoàn, thì công nhân thành lập hội Ái hữu thay thế. Nên giai đoạn này, tên gọi thường mang tên tổ chức song trùng là “Nghiệp đoàn - Ái hữu”.

Tác giả bài viết: Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Trị

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê lượt truy cập
  • Đang truy cập19
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm17
  • Hôm nay880
  • Tháng hiện tại59,753
  • Tổng lượt truy cập3,663,099
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây